Sơ lược về viêm khớp vẩy nến
Tỉ lệ viêm khớp vẩy nến giữa nam:nữ là 1:1 (tỉ lệ này cũng ngang nhau giữa nam và nữ trong vẩy nến không biến chứng khác với viêm khớp dạng thấp có xu hướng trội ở nữ hơn).
Cơ chế bệnh sinh của bệnh vẩy nến hiện nay vẫn còn chưa rõ, nhưng các chuyên gia đã chỉ ra ba yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với quá trình sinh bệnh di truyền, miễn dịch và môi trường. Trong đó, nhiều trường hợp khởi phát bệnh sau khi sử dụng thuốc điều trị bệnh khác.

Bệnh diễn tiến từng đợt, các dạng triệu chứng lâm sàng không cố định mà có thể xuất hiện các thể khác nhau hay trùng lặp trong các đợt.
Trên da, móng có thể xuất hiện vẩy nến ở các thể thông thường (thể giọt, thể mảng…) hay các thể đặc biệt (thể mủ, thể đỏ da toàn thân…). Thương tổn da điển hình là những vẩy màu hồng trên bề mặt da. Những thay đổi kinh điển trên móng thường là rỗ như châm kim, bong móng và một số biểu hiện khác như là mất màu móng, dầy móng…
Khớp có hiện tượng tổn thương, viêm khớp, biến dạng khớp, dính khớp, sưng, đau, cứng khớp, không đối xứng một vài khớp, chủ yếu là đau, hạn chế vận động cột sống và khớp cùng chậu.
Lưu ý trong quá trình điều trị vẩy nến thể khớp
Kết hợp giữa sử dụng thuốc, sản phẩm hỗ trợ điều trị vẩy nến thể khớp và các biện pháp khác: tâm lý, vật lý trị liệu để hồi phục chức năng vận động; điều chỉnh chế độ sinh hoạt, ăn uống khoa học, lành mạnh, tránh để cơ thể chịu tác động của các nhân tố có khả năng làm tái phát hoặc trầm trọng hơn biểu hiện của bệnh: stress, rượu bia, thuốc lá, chất cay nóng, thịt chó, thực phẩm gây kích ứng da…
Hạn chế tối đa việc sử dụng các sản phẩm, biệt dược có chứa thành phần corticoid, kim loại nặng (chì, thủy ngân, lưu huỳnh…) trong điều trị vẩy nến thể khớp. Trường hợp cần dùng, phải tuân theo chỉ định của bác sỹ, không được tự ý sử dụng, lạm dụng sản phẩm có thành phần kể trên.
